Đây là ý kiến thống nhất của các nhà khoa học, trong đó có có các chuyên gia Viện Pasteur thành phố Hồ Chí Minh, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương, Ban chủ nhiệm Chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp quốc gia giai đoạn 2016-2020, Học viện Quân y, Bệnh viện Quân y 103, Bộ Y tế và một số đơn vị nghiên cứu, sản xuất vắc xin trong cuộc họp bàn giải pháp ứng phó dịch viêm phổi do virus Corona (nCoV) do Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Phạm Công Tạc chủ trì, chiều 30/01/2020, tại Hà Nội.

Toàn cảnh buổi họp giữa Lãnh đạo Bộ Khoa học và Công nghệ với các nhà khoa học hàng đầu trong lĩnh vực dịch tễ, vắc xin

Liên quan đến hành lang pháp lý, cơ chế chính sách cũng như tài chính thực hiện nhiệm vụ, Thứ trưởng Phạm Công Tạc khẳng định sẽ tạo điều kiện tốt nhất cho các nhà khoa học bởi đây là nhiệm vụ cấp bách và vô cùng quan trọng. Theo đánh giá của các nhà khoa học, với tốc độ lây nhanh của virus Corona ở Trung Quốc cho thấy tình hình phức tạp của dịch bệnh này. Hiện nay vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu và vắc xin dự phòng bệnh, nguồn gốc phát sinh dịch bệnh thì có nhiều giả thuyết từ các kết quả nghiên cứu khác nhau, vì thế, Việt Nam cần chủ động trong công tác phòng, chống dịch bệnh do virus Corona.

GS.TS. Nguyễn Văn Kính, Chủ tịch Hội Truyền nhiễm, nguyên Giám đốc Bệnh viện Nhiệt đới Trung ương đề xuất, Việt Nam phải tự sản xuất sinh phẩm chẩn đoán để chủ động, không thể chờ quốc tế hỗ trợ. Khi có bộ kit test, Việt Nam có thể chủ động sàng lọc các ca nghi vấn để cách ly.

Chủng virus Corona mới ưa lạnh, thời gian ủ bệnh lên đến 14 ngày (trong khi đó hội chứng hô hấp cấp tính nặng SARS thời gian ủ bệnh là 5-7 ngày). Đây là đặc tính của biến chủng mới nên cần phải hết sức lưu ý. GS.TS. Nguyễn Văn Kính lo ngại tình hình căng thẳng hơn nếu dịch bệnh bùng phát ở miền Bắc do thời điểm này trời ẩm, nồm và lạnh và nhất là lúc diễn ra nhiều lễ hội tập trung đông người.

Theo đó, GS.TS. Nguyễn Văn Kính đặc biệt lưu ý việc phòng tránh lây lan bệnh ở những nơi công cộng, càng đông càng dễ lây, đặc biệt những bệnh viện lớn, tập trung đông bệnh nhân và người nhà. Đồng quan điểm, PGS. Phan Trọng Lân, Viện trưởng Viện Pasteur thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, việc chủ động sản xuất kit test giúp rút ngắn thời gian phát hiện bệnh nhân đồng thời phải nghiên cứu dịch tễ học ngay từ đầu để có thể thu thập được số liệu một cách đồng bộ từ những ca bệnh đầu tiên.

PGS. Trần Đắc Phu, nguyên Cục trưởng Cục Y tế dự phòng đề nghị Bộ Khoa học và Công nghệ giao cho đơn vị có năng lực và trình độ nghiên cứu sản xuất nhanh bộ kit test, đồng thời nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học, dịch tễ học phân tử, đặc điểm virus học về bệnh này.

Về sản xuất vắc xin phòng bệnh do virus nCoV, TS. Đỗ Tuấn Đạt, Giám đốc Công ty TNHH một thành viên Vắc xin và Sinh phẩm số 1 cho rằng cần một quá trình ít nhất sau 3 tháng để khẳng định tính khả thi. Công ty đã chủ động liên hệ với phía Anh, đề nghị giúp Việt Nam trong việc phát triển vắc xin phòng bệnh do virus nCoV.

GS.TS. Lê Bách Quang – Thành viên Ban chủ nhiệm Chương trình Khoa học và Công nghệ trọng điểm cấp quốc gia giai đoạn 2016-2020 phân tích: Cơ sở khoa học để trả lời về virus Corona còn nhiều điều phải nghiên cứu. Trong tình hình cấp bách hiện nay và nguy cơ bùng phát dịch bệnh do virus nCov lớn hơn dịch SARS trước đây nên cần phải phản ứng nhanh, ngay từ bây giờ phải nghiên cứu về dịch tễ học, vius học và phải tư vấn với Chính phủ về phản ứng ứng phó…

Trao đổi tại cuộc họp, Thứ trưởng Phạm Công Tạc cho rằng, mặc dù Việt Nam vẫn được các tổ chức y tế quốc tế quan tâm hỗ trợ, Tổ chức Y tế Thế giới cũng cung cấp vật mồi cho Việt Nam trong việc xét nghiệm chủng virus Corona mới nhưng các nhà khoa học Việt Nam cần quyết liệt vào cuộc để có phản ứng đúng mức với dịch bệnh mới này trên cơ sở khoa học.

Thống nhất quan điểm với các nhà khoa học, Thứ trưởng Phạm Công Tạc đề nghị các nhà khoa học cần tập trung nghiên cứu xây dựng bộ kit test nhanh trong thời gian sớm nhất, bên cạnh đó cũng xây dựng các đề tài nghiên cứu về dịch tễ học với chủng virus corona mới, nghiên cứu về lâm sàng chủng virus để từ đó nghiên cứu vắc xin điều trị./.

Nguồn: most.gov.vn

Trong thời gian tới, Việt Nam có thể xuất hiện thêm nhiều trường hợp dương tính với virus nCoV, song với sự vào cuộc đồng bộ, quyết liệt của cả hệ thống chính trị, với trình độ và năng lực đã được minh chứng, ngành y tế Việt Nam tự tin sẽ đủ khả năng ngăn chặn dịch bệnh này.

Thứ trưởng Nguyễn Trường Sơn phát biểu tại cuộc họp. Ảnh VGP/Trần Mạnh

Chiều 03/02/2020, Ban Chỉ đạo quốc gia phòng chống dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus Corona (nCoV) gây ra đã tiến hành cuộc họp triển khai các biện pháp phòng chống dịch. Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam, Trưởng Ban Chỉ đạo chủ trì cuộc họp.

Tỷ lệ tử vong do nCoV không cao như dự đoán

Phát biểu tại cuộc họp, Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Trường Sơn, Phó Trưởng Ban chỉ đạo phòng chống dịch cho biết, tính đến thời điểm trưa 03/02/2020, thế giới đã ghi nhận 17.386 trường hợp mắc bệnh viêm đường hô hấp cấp do nCoV, trong đó có 362 trường hợp tử vong, chiếm khoảng 2% (361 trường hợp tử vong tại Trung Quốc và 1 trường hợp tử vong tại Philippines).

Tại Trung Quốc đã ghi nhận 17.205 trường hợp tại 31/31 tỉnh/thành phố. Còn trên thế giới, dịch bệnh này đã lây lan tới 26 quốc gia và vùng lãnh thổ (bên ngoài lục địa Trung Quốc) với 184 trường hợp mắc bệnh (Nhật Bản: 20, Thái Lan: 19, Singapore: 18, Hàn Quốc: 15, Hongkong (TQ): 14, Australia: 12, Mỹ: 11, Đài Loan (TQ): 10, Đức: 10, Malaysia: 8, Macau (TQ): 8, Việt Nam: 8, Pháp: 6, Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất: 5, Canada: 4, Italy: 2, Anh: 2, Nga: 2, Philippines: 2 (1 tử vong), Ấn Độ: 2, Campuchia: 1, Phần Lan: 1, Nepal: 1, Sri Lanka: 1, Thuỵ Điển: 1, Tây Ban Nha: 1).

Cũng theo lãnh đạo Bộ Y tế, bệnh viêm đường hô hấp cấp do nCoV gây ra lây lan nhanh hơn nhưng tỷ lệ tử vong thấp hơn nhiều lần so với Hội chứng hô hấp cấp tính nặng SARS-CoV. Cụ thể, chỉ trong chưa đầy 1 tháng (tính từ ngày 8/12/2019 đến ngày 3/2/2020) virus nCoV đã làm 17.386 người mắc bệnh, 362 người tử vong. Trong khi đó từ tháng 11/2002 đến tháng 7/2003 (9 tháng) SARS-CoV chỉ làm 8096 người mắc bệnh, nhưng có tới 774 người tử vong, tỷ lệ người tử vong lên tới 9,6%.

Ảnh VGP/Trần Mạnh

Ngành Y tế tự tin

Thông tin về tình hình dịch bệnh do virus nCoV gây ra trên lãnh thổ Việt Nam, Thứ trưởng Nguyễn Trường Sơn cho biết đến thời điểm hiện tại Việt Nam mới chỉ có 8 người nhiễm bệnh (dương tính với nCoV). Số trường hợp nghi ngờ là 303 người, trong đó đã loại trừ 214 người (âm tính) còn lại 89 người đang chờ kết quả xét nghiệm.

So với ngày 02/02/2020, số nghi ngờ tăng thêm 67 trường hợp, ghi nhận thêm 1 trường hợp mắc bệnh tại tỉnh Vĩnh Phúc (hiện đang được cách ly, điều trị tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương cơ sở Đông Anh); chúng ta cũng đã loại trừ được thêm 51 trường hợp; số trường hợp nghi ngờ đang được cách ly theo dõi, điều trị, chờ kết quả xét nghiệm tăng 37 trường hợp; số trường hợp nghi ngờ tiếp xúc gần đang được theo dõi sức khoẻ tăng 16 trường hợp.

Thứ trưởng Nguyễn Trường Sơn cho biết đặc tính của dịch bệnh do virus nCoV là lây lan rất nhanh. Ban đầu, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) dự báo tỷ lệ tử vong có thể lên tới 3%, nhưng thực tế cho thấy đến thời điểm hiện tại, ở Trung Quốc, tỷ lệ này mới ở mức 2%.

Còn ở nước ta, đến thời điểm hiện tại mới có 8 người mắc bệnh và chưa có cán bộ y tế nào bị lây nhiễm bệnh. Đáng chú ý, trong số những người mắc bệnh, chúng ta đã chữa khỏi cho 2 người (1 bệnh nhân điều trị ở Bệnh viện Chợ Rẫy, TPHCM, 1 bệnh nhân ở Thanh Hóa); 4 người còn lại tình hình sức khỏe cũng đang tiến triển tích cực.

Theo Thứ trưởng Nguyễn Trường Sơn để có được kết quả trên là nhờ chúng ta đã vào cuộc rất quyết liệt với các phương án toàn diện, hiệu quả để sẵn sàng phát hiện, khoanh vùng, cách ly, điều trị, dập dịch.

Lãnh đạo Bộ Y tế cũng dự đoán trong thời gian tới, dịch bệnh này còn diễn biến phức tạp ở Trung Quốc và lan nhanh ra nhiều nước. Cùng với sự phát triển của các thiết bị xét nghiệm mới giúp phát hiện người mắc bệnh nhanh hơn, ở trong nước có thể xuất hiện thêm nhiều trường hợp dương tính với virus nCoV, song với sự vào cuộc đồng bộ, quyết liệt của cả hệ thống chính trị, với trình độ và năng lực đã được minh chứng, Ngành Y tế Việt Nam tự tin sẽ đủ khả năng ngăn chặn dịch bệnh này./.

Theo Bộ Y Tế (moh.gov.vn)

Ngày 26/4 hằng năm, chúng ta đều kỷ niệm Ngày Sở hữu trí tuệ thế giới để tìm hiểu về vai trò của quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) trong việc khuyến khích đổi mới và sáng tạo. Ngày Sở hữu trí tuệ thế giới 2020 đặt đổi mới sáng tạo – và các quyền SHTT hỗ trợ đổi mới sáng tạo – là trung tâm của những nỗ lực tạo ra một tương lai xanh. Tại sao? Bởi vì những lựa chọn chúng ta đưa ra hôm nay sẽ định hình tương lai của chúng ta mai sau. Trái đất là nhà của chúng ta. Chúng ta cần quan tâm đến Trái đất.

Xác định một lộ trình đến tương lai xanh là một yêu cầu cấp bách hiện nay. Tất cả chúng ta đều chia sẻ thử thách này và mỗi người có một vai trò trong việc xây dựng một tương lai xanh. Điều này đòi hỏi nỗ lực lớn lao và đa chiều, nhưng như nhà tự nhiên học nổi tiếng David Attenborough đã lưu ý “với tư cách là một giống loài, chúng ta là những chuyên gia giải quyết vấn đề”. Chúng ta có thể tạo ra một tương lai xanh.

Chúng ta có trí tuệ, sự khéo léo và khả năng sáng tạo tập thể để đưa ra những cách thức mới, hiệu quả hơn nhằm định hình một tương lai ít carbon. Nhưng chúng ta phải hành động ngay!

Chiến dịch cho Ngày Sở hữu trí tuệ thế giới 2020 đặt đổi mới sáng tạo – và các quyền SHTT hỗ trợ cho đổi mới sáng tạo – là trung tâm của những nỗ lực tạo ra một tương lai xanh. Tại sao? Bởi vì những lựa chọn chúng ta đưa ra hôm nay sẽ định hình tương lai của chúng ta mai sau. Trái đất là nhà của chúng ta. Chúng ta cần quan tâm đến Trái đất.

Chiến dịch cũng tôn vinh nhiều nhà sáng chế và sáng tạo truyền cảm hứng trên khắp thế giới đang đánh cược vào một tương lai xanh – họ những phụ nữ, nam giới và những người trẻ tuổi đang làm các công việc nhằm tạo ra sự thay thế sạch hơn cho các công nghệ dựa trên nhiên liệu hóa thạch, các hệ thống kiểm soát các nguồn tài nguyên thiên nhiên và thực phẩm hiệu quả và bền vững hơn và cả những người đang sử dụng hệ thống SHTT để hỗ trợ công việc của họ cũng như tiếp thu và sử dụng trong cộng đồng.

Chúng ta khám phá cách thức mà một hệ thống SHTT cân bằng và mạnh mẽ có thể thúc đẩy sự xuất hiện của một nền kinh tế xanh cùng cộng sinh với các hệ thống hỗ trợ sự sống của Trái đất. Chúng ta xem xét cách thức mà hệ thống bảo hộ bằng độc quyền sáng chế thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển và phổ biến các công nghệ thân thiện với môi trường, cho phép chúng ta giải quyết khủng hoảng khí hậu và xây dựng một tương lai xanh; cách thức mà tư duy sáng tạo và quyền đối với kiểu dáng cùng nhau khuyến khích việc sử dụng tối ưu các nguồn lực, cho phép các nhà thiết kế đầu tư thời gian và tài năng vào việc tạo ra cho người tiêu dùng các sản phẩm hữu ích, hấp dẫn và thân thiện với môi trường.

Chúng ta xem xét cách thức mà các nhãn hiệu và các chỉ dẫn khác hỗ trợ vào việc hình thành và phát triển của các doanh nghiệp dựa trên các nguyên tắc bền vững về môi trường, cho phép họ cung cấp các sản phẩm và dịch vụ thân thiện với môi trường đa dạng hơn.

Chúng ta nhận thấy cách thức mà các quyền như chỉ dẫn địa lý đang khuyến khích sử dụng tài nguyên thiên nhiên bền vững hơn và quyền đối với giống cây trồng đang thúc đẩy sự phát triển của các loại cây trồng mạnh mẽ hơn nhằm hỗ trợ giải quyết vấn đề an ninh lương thực toàn cầu.

Và chúng ta thấy được cách thức mà những nhà sáng tạo – những người thông qua hệ thống quyền tác giả có thể kiếm sống từ những tác phẩm của họ – có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo ra tầm nhìn về một tương lai xanh và những lợi ích chưa từng thấy.

Như Einstein đã từng lưu ý, chúng ta không thể liên tục làm một việc lặp đi lặp lại và mong đợi những kết quả khác nhau. Nếu chúng ta muốn có kết quả khác nhau, chúng ta cần phải đổi mới trong cách tiếp cận, trong suy nghĩ và mô hình kinh doanh của mình.

Cam kết của chúng ta, những lựa chọn mà chúng ta thực hiện mỗi ngày, những sản phẩm chúng ta mua, những nghiên cứu chúng ta tài trợ, những công ty chúng ta hỗ trợ và những chính sách và luật pháp chúng ta thiết lập sẽ quyết định tương lai của chúng ta xanh như thế nào. Với tư duy đổi mới sáng tạo cùng chiến lược sử dụng quyền sở hữu trí tuệ, phát triển bền vững là trong tầm tay.

Hãy cùng chúng tôi khám phá vai trò của đổi mới sáng tạo và quyền sở hữu trí tuệ trong việc mở ra một con đường dẫn đến một tương lai xanh. Chia sẻ những thành quả đổi mới sáng tạo xanh yêu thích của bạn và cho chúng tôi biết bạn sẽ thúc đẩy năng lực xanh của mình như thế nào./.

Trung tâm Nghiên cứu, Đào tạo và Hỗ trợ, Tư vấn
(dịch từ bản tiếng Anh https://www.wipo.int/ip-outreach/en/ipday/)

Những thất bại trong quá khứ của một số trung tâm chuyển giao công nghệ (TTO) tại một số trường đại học cho thấy, để tránh đi vào vết xe đổ đó, những chính sách về chuyển giao công nghệ trong trường/viện cần tập trung vào việc hình thành mô hình TTO tốt để nó có thể thực hiện được đầy đủ chức năng của mình.

Một dây chuyền sản xuất của Trung tâm Nghiên cứu chuyển giao công nghệ và Giám định công nghệ ở Khu Công nghệ cao Hòa Lạc – một trong những trung tâm chuyển giao công nghệ lớn nhất Việt Nam hiện nay. Nguồn: MOST

Một dây chuyền sản xuất của Trung tâm Nghiên cứu chuyển giao công nghệ và Giám định công nghệ ở Khu Công nghệ cao Hòa Lạc – một trong những trung tâm chuyển giao công nghệ lớn nhất Việt Nam hiện nay. Nguồn: MOST

Do quá trình đó sẽ diễn ra trong khoảng thời gian dài nên cần có sự kiên nhẫn của các nhà quản lý.

Những TTO bị “bỏ quên”

Không phải ở thời điểm này, khi các hoạt động chuyển giao công nghệ được nhắc đến một cách rầm rộ ở nhiều viện, trường như Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Quốc gia Hà Nội, Học viện Nông nghiệp Việt Nam… thì các trung tâm chuyển giao công nghệ mới được hình thành. Trên thực tế, ngay từ đầu những năm 2000, một số viện, trường ở Việt Nam như Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam, Đại học Dược Hà Nội,… đã thành lập trung tâm chuyển giao công nghệ (TTO). Trao đổi bên lề hội thảo “Quản trị tài sản trí tuệ và thương mại hóa công nghệ dành cho các viện/trường thành viên trong khuôn khổ dự án Môi trường sở hữu trí tuệ kiến tạo (EIE)” (diễn ra từ ngày 28 đến 31/10/2019), PGS.TS. Phan Tiến Dũng, Phó trưởng Ban Ứng dụng và Triển khai công nghệ (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) đã nhìn nhận lại quá trình này và nhận xét, “so với tiến trình của các quốc gia khác trên thế giới như Mỹ bắt đầu thành lập TTO từ những năm 1980, Singapore từ những năm 1990 và đầu 2000 như Brazil,… thì chúng ta cũng không bị chậm quá so với thế giới”.

Tuy sớm có TTO nhưng đáng buồn là khi đó, các TTO đều ở cảnh hoạt động không hiệu quả hoặc không đúng chức năng. Đó là câu chuyện ở trường đại học Dược Hà Nội, một ngôi trường có nhiều đề tài, dự án nghiên cứu về các hoạt chất, các loại dược liệu có khả năng chuyển thành các loại thuốc, thực phẩm chức năng. PGS.TS. Đỗ Quyên, trưởng phòng Quản lý khoa học của trường cho biết, trước đây ban giám hiệu đã thành lập một trung tâm có chức năng tương tự TTO) nhưng “mục đích là tiếp nhận kinh phí cho các đề tài nghiên cứu theo quy định lúc đó chứ không phải để thực hiện nhiệm vụ chuyển giao”. Công việc mà trung tâm thực hiện không rõ ràng nên “khi không còn áp dụng quy định về tiếp nhận kinh phí nữa nên trường đã quyết định đóng cửa trung tâm dù việc có được một trung tâm như vậy không hề dễ dàng”, chị cho biết.

Tình cảnh đó cũng lặp lại tại một cơ sở lớn hàng đầu về KH&CN ở Việt Nam như Viện Hàn lâm KH&CN. “Trung tâm nghiên cứu và chuyển giao công nghệ của Viện vẫn chủ yếu tập trung vào phần… nghiên cứu là chính còn phần chuyển giao vẫn còn hạn chế”, PGS.TS. Phan Tiến Dũng cho biết.

Vậy đâu là nguyên nhân chính khiến khiến các TTO vẫn còn loay hoay và không thực hiện đúng mục tiêu như được kỳ vọng? “Là do lúc đó mọi người còn chưa có kinh nghiệm trong hoạt động chuyển giao công nghệ, hơn nữa chưa có được những chính sách hướng dẫn cụ thể như bây giờ nên các viện, trường chưa biết cách làm như thế nào”, PGS.TS. Đỗ Quyên nói. Chị muốn so sánh cái thời còn mò mẫm chưa biết làm gì, chưa biết hỏi ai về các vấn đề liên quan đến chuyển giao công nghệ với thời điểm hiện tại, khi những người quan tâm đến chuyển giao như chị và đồng nghiệp được Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ KH&CN) hướng dẫn, được tham gia các khóa học hướng dẫn và được các chuyên gia nước ngoài hướng dẫn, trao đổi kinh nghiệm tại các hội thảo như hội thảo về quản trị tài sản trí tuệ cho các viện trường trong khuôn khổ dự án EIE do Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), Cơ quan Sáng chế Nhật Bản (JPO) phối hợp với Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ KH&CN) và trường Đại học Bách khoa Hà Nội phối hợp tổ chức.

Mặt khác, các quy định về tổ chức của các TTO vẫn còn chưa rõ ràng: ai là người quản lý, nhân lực của TTO là công chức hay viên chức, nguồn kinh phí đầu tư ở đâu, quy trình hoạt động của nó ra sao…. Đây không phải là vấn đề của riêng Việt Nam bởi với các quốc gia mới bắt đầu phát triển các TTO đều rơi vào trường hợp này. “Ở Đại học Cornell, chúng tôi đã từng tranh cãi TTO sẽ thuộc sự quản lý phó hiệu trưởng về tài chính hay chịu sự quản lý của phó hiệu trưởng về nghiên cứu. Có người cho rằng phó hiệu trưởng tài chính chịu trách nhiệm về các hoạt động đầu tư nên sẽ phù hợp hơn. Sau một khoảng thời gian dài tranh cãi, cuối cùng TTO cũng được đặt dưới sự quản lý của phó hiệu trưởng phụ trách nghiên cứu vì việc tạo doanh thu tuy quan trọng nhưng chỉ là một phần, nghiên cứu mới là vấn đề chính cần quan tâm”, ông Richard S. Cahoon, cựu Giám đốc TTO của Đại học Cornell kể lại quá trình loay hoay lúc mới thành lập TTO ở trường, đồng thời đưa nhận xét, “nếu không phân định rạch ròi về thẩm quyền giữa TTO với viện, trường thì có thể dẫn đến rất nhiều vấn đề khúc mắc sau này”.

Cần một quá trình “ươm tạo”

Trong bối cảnh mới, khi hoạt động nghiên cứu của các trường viện đã gia tăng rất nhiều so với trước đây và các nhà nghiên cứu cũng có ý thức nhiều hơn trong vấn đề chuyển kết quả nghiên cứu thành sản phẩm công nghệ, vai trò của các TTO đã được nhìn nhận lại. Vậy để tránh rơi vào vết xe cũ, các TTO cần được hoạt động như thế nào. Với tư cách là một chuyên gia tư vấn chuyển giao công nghệ và từng tham gia thành lập TTO đầu tiên ở Brazil, bà Elizabeth Ritter – một diễn giả tại hội thảo, cho rằng các chính sách của nhà nước là điều cần thiết để thúc đẩy các viện, trường thành lập TTO nhưng “nếu chỉ có mỗi chính sách vĩ mô thì chẳng làm được gì. Điều quan trọng là cần đào tạo nhân lực đủ khả năng điều hành TTO và có hướng dẫn cụ thể về việc xây dựng TTO”.

Việc đầu tư xây dựng các TTO cần một quá trình dài. Ở những quốc gia có nền công nghiệp phát triển và dẫn đầu trong xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo như Mỹ, Pháp,… TTO cũng phải mất khoảng 10 năm để có thể tự hoạt động ổn định. Chính phủ cần ý thức điều này, nếu không sẽ ảnh hưởng đến việc xây dựng các chính sách về TTO, theo Elizabeth Ritter.

Tương tự như Việt Nam, khó khăn lớn nhất mà phần lớn TTO trên thế giới thường gặp phải giai đoạn đầu mới thành lập là thiếu nhân lực có kinh nghiệm để vận hành TTO. “Chúng tôi phải thực hiện mà không có bất cứ hiểu biết nào, điều này rất khó”, ông Cahoon nói. “Chúng tôi phải tìm người vừa có hiểu biết về công nghệ lại vừa hiểu về kinh doanh và làm việc toàn thời gian để vận hành TTO. Cũng như các bạn bây giờ, chúng tôi cũng phải học hỏi những kiến thức đầu tiên về TTO”, ông chia sẻ trong bài giảng về cách xây dựng cơ cấu tổ chức của TTO trong khuôn khổ hội thảo. Trong vòng bốn ngày, ông và các chuyên gia WIPO đã trình bày cặn kẽ về các nội dung: cách lựa chọn người đứng đầu TTO, cơ cấu tổ chức và quản trị của TTO; cách tiếp cận tác giả sáng chế, đánh giá và lựa chọn công nghệ để thương mại hóa; marketing công nghệ; tìm kiếm đối tác nhượng quyền tiềm năng; xây dựng thỏa thuận nhượng quyền, thậm chí những chi tiết nhỏ nhất như cách gọi điện thoại, gửi email cho đối tác, chọn bao nhiêu người đi đàm phán, có nên đưa nhà sáng chế cùng đi đàm phán hay không,… cũng được giải thích kỹ càng.

Các chuyên gia lưu ý, việc đầu tư xây dựng các TTO cần một quá trình dài. Ở những quốc gia có nền công nghiệp phát triển và dẫn đầu trong xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo như Mỹ, Pháp,… TTO cũng phải mất khoảng 10 năm để có thể tự hoạt động ổn định, bà Ritter cho biết. “Chính phủ cần ý thức điều này bởi đôi khi họ lầm tưởng rằng chỉ cần có TTO là đảm bảo được hoạt động chuyển giao công nghệ của các viện, trường – điều này sẽ ảnh hưởng đến việc xây dựng các chính sách về TTO”.

Ngoài ra, quá trình đầu tư TTO thành công nhanh hay chậm còn phụ thuộc vào nhân lực khoa học và môi trường công nghiệp của mỗi nước. “Khi có nhiều nhà nghiên cứu mạnh, bạn đã có nguồn lực chính để thành lập TTO”, bà Ritter nhận xét. Bên cạnh đó, nhu cầu đổi mới và sáng tạo của các doanh nghiệp cũng sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của các TTO. Điều này có thể dễ dàng nhận thấy ở các quốc gia như Mỹ, Pháp, Anh, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore,… – có số lượng các nhà nghiên cứu cao và nhiều doanh nghiệp có nhu cầu đổi mới công nghệ nên đã tạo ra thị trường công nghệ với nguồn cung – cầu lớn.

Ở các quốc gia có nền KH&CN phát triển như Mỹ, Nhật Bản, Đức,… văn phòng chuyển giao công nghệ (TTO) được coi là giải pháp hiệu quả để thương mại hóa kết quả nghiên cứu của các viện, trường. Mỗi viện, trường sẽ có một TTO “đồng hành” với nhà nghiên cứu từ “A đến Z” quá trình thương mại hóa kết quả nghiên cứu: từ tiếp nhận sáng chế – đánh giá tiềm năng – nộp đơn bảo hộ – tìm kiếm đối tác – soạn thảo hợp đồng. “Phần lớn hoạt động chuyển giao công nghệ ở các viện trường trên thế giới đều được thực hiện thông qua TTO”, bà Yumiko Hamano, chuyên gia tư vấn về sở hữu trí tuệ ở WIPO cho biết.

Thanh An (khoahocvaphattrien)