Khóa học do SIHUB tổ chức đã cung cấp khá phong phú kiến thức, nội dung bồi dưỡng trong hoạt động hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.

Trong khuôn khổ chương trình hỗ trợ các địa phương xây dựng và phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo, từ ngày 17-19/12, SIHUB đã tổ chức khoá huấn luyện về cách thức triển khai dịch vụ hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.

Chuyên gia chia sẻ kinh nghiệm “xương máu” về hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo - 1

 Ông Huỳnh Kim Tước, Giám đốc điều hành SIHUB, chia sẻ những kinh nghiệm phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại TP.HCM. Ảnh: SIHUB

Khoá học cung cấp các phương pháp triển khai dịch vụ hỗ trợ cộng đồng, các nguồn lực cần chuẩn bị, những lưu ý trong cách chọn lựa dịch vụ cho từng địa phương… cũng như bổ sung những kiến thức, kỹ năng cần thiết cho đội ngũ vận hành các hoạt động. Tham gia khoá học, ngoài cán bộ thuộc các cơ quan hỗ trợ khởi nghiệp ở các địa phương như Cần Thơ, Sóc Trăng, Bài Rịa – Vũng Tàu, Bến Tre, Bình Dương còn có rất nhiều giảng viên đến từ các trường Đại học tại TP.HCM, các tổ chức hỗ trợ cộng đồng khối tư nhân…

Trực tiếp tham gia giảng dạy khoá học này, ông Huỳnh Kim Tước, Giám đốc điều hành Saigon Innovation Hub đã chia sẻ những kiến thức về các nguồn lực và công cụ hiệu quả dành cho các đơn vị hỗ trợ khởi nghiệp, cách thu hút nguồn lực từ cộng đồng hay những thuận lợi và khó khăn mà các đơn vị này gặp phải. Với mô hình mẫu là SIHUB, ông Tước đã đưa ra những bài học kinh nghiệm “xương máu” trong quá trình hình thành và phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo TP.HCM.

Chuyên gia chia sẻ kinh nghiệm “xương máu” về hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo - 2

Ông Lý Trường Chiến, Chủ tịch của Trí Tri Group, cũng là một giảng viên của khóa học. Ảnh: SIHUB

Ngoài ra, khóa học còn có sự tham gia của chị Nguyễn Quỳnh Anh, Quản lý chương trình SWISS EP (Chương trình Hỗ trợ khởi nghiệp Thụy Sĩ). Từ kinh nghiệm tham gia vào các chương trình khởi nghiệp lớn tại Việt Nam và thế giới, chị Quỳnh Anh đã giúp học viên có được cái nhìn tổng quan về hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo TP.HCM, cũng như phân biệt được các thuật ngữ liên quan đến khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo, hay các giai đoạn trong một quá trình khởi nghiệp, lý do của sự tăng trưởng và công nghệ trong việc quản lý…

Ngoài ra, tham gia huấn luyện còn có thầy Lý Trường Chiến (Chủ tịch Trí Tri Group, Đối tác Chiến lược của Faster Capital hỗ trợ SME và khởi nghiệp ở khu vực Asean), thầy Nguyễn Ngọc Dũng (ĐH Bách Khoa TP. HCM), cô Vũ Thị Minh Ngọc (chuyên gia về communication)… Bên cạnh phần truyền tải kiến thức, các bài giảng còn có những hoạt động bài tập nhóm để giúp học viên thực hành và tương tác để hỗ trợ nhau.

Kết thúc khoá, hơn 80% học viên đã tự đánh giá họ đạt được mục tiêu đề ra trước khi tham gia khoá học.

Phương Hà (khampha.vn)

Sinh ra ở miền biển nghèo khó, Tâm theo cha trong những chuyến đi biển, theo mẹ vào rừng đốn củi, hay lái đò ở bến sông để có thêm chút tiền chuẩn bị cho năm học mới. Cuộc sống khó khăn giúp anh nuôi ý chí, quyết tâm vươn lên để trở thành một nhà khoa học.

Nguyễn Duy Tâm (sinh năm 1990, tại Quảng Bình) hiện đang nghiên cứu sau tiến sĩ tại Trường Khoa học và Kỹ thuật Vật liệu, Đại học Công nghệ Nanyang (NTU), Singapore. Tâm tự nhận mình có nhiều cơ duyên được tham gia vào khá nhiều đề tài nghiên cứu khác nhau nhưng chủ yếu tập trung về vật liệu lưu trữ và chuyển đổi năng lượng, vật liệu xúc tác các phản ứng điện hóa và các vật liệu cấu trúc nano.

Bốn năm trời nghiên cứu kéo dài tuổi thọ pin vanadium

Anh bắt đầu bằng đề tài nghiên cứu về vật liệu xúc tác cho phản ứng tách phân tử nước, phục vụ công nghệ sản xuất khí hydro. Trong lĩnh vực này, xúc tác Iridium và Ruthenium được biết là các vật liệu có hiệu suất cao nhất, nhưng giá thành lại rất đắt. Tiến sĩ trẻ đã tìm ra được phương pháp đơn giản để chế tạo hạt nano cho vật liệu này, giúp tăng hiệu suất và giảm giá thành.

Sau đó, Tâm tiếp tục tham gia thực hiện đề tài về pin oxy-hóa khử vanadium, cũng là đề tài nghiên cứu sinh của anh.

Tiến sĩ Nguyễn Duy Tâm. Ảnh: NVCC

Tâm cho biết: “Một trong những khó khăn lớn nhất hiện nay đối với năng lượng tái tạo là việc kiểm soát và ổn định hóa năng lượng tạo ra. Trong đó, việc lưu trữ theo phương thức điện hóa (chủ yếu là pin) được xem là một trong các phương thức hiệu quả nhất”

Mặc dù pin Lithium – ion phổ biến hiện nay có những ưu điểm vượt trội về hiệu suất và mật độ năng lượng, chúng vẫn có những nhược điểm lớn không tương thích với các hệ thống năng lượng tái tạo: đó là tuổi thọ, khả năng nâng cấp dung lượng, tính an toàn và khả năng tái chế. Trong khi đó, pin oxy – hóa khử vanadium lại đáp ứng hoàn hảo các yêu cầu kể trên, do lưu trữ năng lượng trong chất điện giải (electrolyte), chúng cho phép nâng cấp độc lập dung lượng lưu trữ. Tuổi thọ của pin vanadium lên đến 25 năm, vận hành yên tĩnh và an toàn, không có nguy cơ cháy nổ, thân thiện với môi trường. Đặc biệt, khả năng tái sử dụng các thành phần chính của pin gần như là hoàn toàn với chi phí thấp.

Sau 4 năm nghiên cứu ròng rã với nhiều lần thất bại, Tâm đã tìm được phương thức tối ưu hóa vật liệu điện giải nhằm tăng tuổi thọ, giảm giá thành của hệ thống pin vanadium.

Nguyên lý hoạt động của pin oxy – hóa khử vanadium được một số nhà khoa học của NASA đề xuất trong bối cảnh cuộc khủng hoảng năng lượng toàn cầu vào những năm 1970. Sau đó, vào cuối những năm 1980, hệ thống pin vanadium đầu tiên được phát minh và vận hành bởi nhóm nghiên cứu của giáo sư Maria Skyllas-Kazacos tại ĐH New South Wales, Úc. Kể từ đó, số lượng các nghiên cứu về pin vanadium bắt đầu tăng, cùng với sự ra đời của các sản phẩm pin vanadium thương mại. Nếu coi năng lượng tái tạo là nguồn năng lượng của tương lai, thì pin vanadium và các công nghệ lưu trữ, chuyển đổi khác được xem là chìa khóa để sử dụng hiệu quả nguồn năng lượng đó.

Những ứng dụng tiềm năng của pin vanadium có thể kể đến là việc ổn định hóa năng lượng tái tạo và điều hòa lưới điện, phục vụ đảm bảo an ninh năng lượng; các hệ thống cung cấp năng lượng độc lập dành cho các khu vực biên giới, hải đảo; các hệ thống cung cấp điện dự phòng cho sân bay, cơ sở dữ liệu; nguồn năng lượng cho các tòa nhà thông minh; các các trạm sạc linh động dành cho xe điện…

Tuy nhiên, do giá thành sản xuất và vận hành của hệ thống pin này còn quá cao khiến pin vanadium chưa thể được sử dụng rộng rãi. Sau 4 năm nghiên cứu ròng rã và nhiều lần tưởng như phải bỏ cuộc, Tâm đã tìm được phương thức tối ưu hóa vật liệu điện giải nhằm tăng tuổi thọ, giảm giá thành của hệ thống pin vanadium. Các kết quả này đã được cấp chứng nhận bản quyền phát minh và hiện đang được đăng ký chuyển giao cho VFlowTech – một công ty start-up về pin vanadium.

Hiện tại, Duy Tâm không còn tập trung nhiều thời gian nghiên cứu vào đề tài này nhưng anh đang hỗ trợ chuyển giao công nghệ này về Việt Nam.

“Do có tính chất đặc thù, các dự án về pin vanadium còn khá kén các nhà khoa học vì chi phí đầu tư nghiên cứu rất cao. Bản thân mình cũng nhờ được tài trợ từ hai công ty hàng đầu về lĩnh vực này từ Áo và Đức thì mới có thể hoàn thành tốt được dự án”, Duy Tâm cho biết.

“Những thứ mình học được quả thực còn rất nhỏ bé”

Sinh ra và lớn lên ở xã Thanh Trạch, huyện Bố Trạch, mảnh đất phía nam sông Gianh của tỉnh Quảng Bình, cha của Tâm vốn là một ngư dân, còn mẹ anh chủ yếu nội trợ và làm thêm nhiều công việc nhỏ nhặt khác. “Hồi bé gia đình mình rất khó khăn vì nghề biển vốn rất bấp bênh, mà mảnh đất miền Trung lại là nơi gánh chịu nhiều bão gió. Cha mẹ mình đã rất cố gắng để cho cả 3 anh em cùng được ăn học đầy đủ. Từ năm lớp 3, mình cũng tận dụng hầu hết các thời gian không lên lớp để làm việc phụ cha mẹ. Mình đã theo cha trong những chuyến đi biển, theo mẹ vào rừng đốn củi, hay lái đò ở bến sông Gianh… Cuộc sống khó khăn giúp mình luôn phấn đấu và quyết tâm trong học tập để vươn lên”, Duy Tâm chia sẻ.

Những năm học đại học, ngoài giờ lên lớp, chàng trai sinh năm 1990 luôn cố gắng sắp xếp thời gian đi gia sư để có thêm tiền trang trải cuộc sống. Mọi thứ trở nên nhẹ nhàng hơn khi Duy Tâm nhận được học bổng nghiên cứu sinh của NTU. Tuy nhiên, đó là thời điểm anh gặp biến cố lớn nhất trong cuộc đời khi cha anh mất trong một tai nạn trên biển.

“Lúc đó, mình chưa báo đáp được gì công ơn nuôi dưỡng của cha. Mình chỉ tự hứa với lòng mình sẽ thay cha làm trụ cột gia đình và phấn đấu để hoàn thành tâm nguyện của ông, là được thấy mình ăn học thành tài. Động lực đó cùng với sự sẻ chia của bà xã, cuộc sống của mình hiện nay đã tốt hơn, lo được cho mẹ bắt đầu đến tuổi già và em trai học đại học”, Duy Tâm xúc động nói.

Ngay từ nhỏ, Duy Tâm đã có ước mơ trở thành một nhà khoa học. Năm 2008, sau khi thi đỗ vào ĐHQG Hà Nội, với sự giúp đỡ của GS Nguyễn Hữu Đức, Phó giám đốc ĐHQG Hà Nội, Duy Tâm bắt đầu làm quen với các kiến thức về kỹ thuật, công nghệ. Đến năm thứ 3 đại học, anh bắt đầu tập tành làm nghiên cứu với các anh chị ở phòng thí nghiệm công nghệ micro-nano.

Sau khi nhận được học bổng nghiên cứu sinh tại NTU tháng 7 năm 2013, Duy Tâm mới thực sự dấn thân vào con đường nghiên cứu khoa học. Từ tháng 9 năm 2017, sau khi hoàn thành chương trình nghiên cứu sinh, anh bắt đầu thực hiện các nghiên cứu một cách độc lập hơn.

Tâm chia sẻ, anh nhận được sự đồng cảm, đồng hành của vợ trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu.

“Mình luôn cảm thấy may mắn khi nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, hướng dẫn trong quá trình theo đuổi khoa học. Từ các thầy cô giáo đã dạy dỗ mình hồi bé, đến các giáo sư, các giảng viên ở các bậc học cao hơn, tất cả đều tận tình chỉ bảo, giúp đỡ mình. Ngoài ra, mình còn có sự động viên lớn lao từ gia đình và sự đồng cảm của bà xã, cũng đang là nghiên cứu sinh và hiểu rõ được công việc mình làm”, Tâm bộc bạch.

Hiện tại, chàng tiến sĩ trẻ đang thực hiện đề tài nghiên cứu về công nghệ cửa sổ thông minh. Đây là một công nghệ giúp điều khiển lượng bức xạ nhiệt truyền qua các cửa sổ kính ở các cao ốc, văn phòng hiện đại nhằm giảm thiểu năng lượng cần để điều hòa nhiệt độ cũng như chiếu sáng trong phòng. Ngoài ra, anh cũng tham gia hỗ trợ các nghiên cứu khác về vật liệu bán dẫn cấu trúc nano, quang xúc tác…

Trong thời gian tới, Duy Tâm sẽ tiếp tục hoàn tất dự án nghiên cứu hiện tại Đại học Công nghệ Nanyang. Sau đó, anh dự định tìm kiếm một môi trường nghiên cứu mới, đặc biệt anh mong muốn được tham gia thêm vào nhiều đề tài nghiên cứu khác để tích lũy thêm được nhiều kinh nghiệm, kiến thức.

“Những thứ mình đã học được quả thực còn rất nhỏ bé so với thế giới rộng lớn ngoài kia”, Duy Tâm chia sẻ, “Mình sẽ vẫn tiếp tục hỗ trợ các dự án chuyển giao công nghệ ở Việt Nam với hi vọng góp một phần công sức nhỏ bé để phát triển khoa học, công nghệ ở trong nước”.

Theo Khampha.vn

Nếu thiếu sự tham gia của các cấp chính quyền, những chuyên gia cố vấn phù hợp, hoạt động khởi nghiệp sáng tạo sẽ “manh mún” và khó có được sự phát triển bền vững.

Loay hoay startup địa phương

Hiện nay, các doanh nghiệp khởi nghiệp tại địa phương thường chọn xu hướng startup trong lĩnh vực như nông nghiệp, đồ thủ công mỹ nghệ, sản phẩm văn hóa truyền thống… tận dụng nguồn sản phẩm sẵn có của địa phương. Tuy nhiên, hơn 90% trong số này vận hành theo mô hình kinh doanh truyền thống, phát triển tuần tự, chưa có yếu tố đổi mới sáng tạo trong sản phẩm và ứng dụng kỹ thuật công nghệ trong khâu sản xuất. Nguyên nhân là do thiếu sự tham gia và hỗ trợ tư vấn từ các chuyên gia trong ngành cũng như các chương trình hỗ trợ, định hướng ngay từ giai đoạn đầu, dẫn đến startup không đủ năng lực để duy trì mô hình kinh doanh theo hướng đổi mới sáng tạo, có khả năng tăng trưởng nhanh và nhân rộng, đóng góp cho sự phát triển kinh tế xã hội của khu vực.

Ông Trần Trí Dũng, đại diện Chương trình hỗ trợ khởi nghiệp Thụy Sĩ SwissEP tại Việt Nam cho biết, việc chú trọng xây dựng hệ sinh thái cho khởi nghiệp tại Việt Nam trong các năm qua giúp nhiều vườn ươm và quỹ đầu tư hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp phát triển, tuy vậy vẫn chỉ tập trung ở các thành phố lớn như Hà Nội, Đà Nẵng và TPHCM, trong khi các startup địa phương vẫn đang loay hoay tìm kiếm và tiếp cận chuyên gia từ các để tìm ra giải pháp đổi mới sáng tạo.

Để nhận được giúp đỡ từ các tổ chức thúc đẩy kinh doanh (BA) chuyên nghiệp trong hệ sinh thái,ông Phạm Ngọc Huy, Giám đốc chương trình Thúc đẩy kinh doanh của Vietnam Silicon Valley (VSV) gợi ý,startup địa phương cần tìm đến những chuyên gia cố vấn phù hợp với lĩnh vực mà doanh nghiệp khởi nghiệp của mình đang hoạt động những người này phải hiểu rõ sản phẩm địa phương, sẵn sàng lắng nghe, chia sẻ và giải quyết những khó khăn từ ý tưởng đến mô hình kinh doanh.

Theo ông Phạm Ngọc Huy, hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam hiện nay chỉ có 2% số lượng “startup” là startup thật sự, còn lại là vẫn là các mô hình kinh doanh truyền thống và có vận dụng một chút yếu tố đổi mới sáng tạo. Do đó, việc VSV hay những tổ chức như Trung tâm ươm tạo khởi nghiệp Sông Hàn (Songhan Incubator), Vườn ươm doanh nghiệp Đà Nẵng (DNES) đang nỗ lực thực hiện đều hướng đến mục tiêu có thể ươm tạo đội ngũ các “founder” (nhà sáng lập) với tư duy khởi nghiệp sáng tạo và tiến tới chuyển đổi mô hình kinh doanh theo hướng phát triển đột phá hơn.

Kết nối mạng lưới chuyên gia


Ông Phạm Dũng Nam phát biểu tại Hội thảo. Ảnh VGP/ Thu Cúc.

Tại hội thảo “Hội tụ nguồn lực hỗ trợ phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạọ địa phương” do Văn phòng Đề án “Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025” (Đề án 844) – Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức vừa qua, các chuyên gia đã cùng “hiến kế” để giải quyết những khó khăn trong việc kết nối đến mạng lưới chuyên gia chất lượng hỗ trợ start up địa phương. Ông Phạm Dũng Nam – Giám đốc Văn phòng Đề án 844 nhấn mạnh: “Việc xây dựng một cơ sở dữ liệu thông tin về chuyên gia và cố vấn chung về khởi nghiệp sáng tạo để các cơ quan, đơn vị có thể kết nối từ một nguồn uy tín là một trong các hoạt động trọng tâm Đề án 844 thời gian tới”.

Bên cạnh đó, Đề án 844 cũng đã, đang và sẽ tiếp tục duy trì việc đào tạo đội ngũ mentor (người hướng dẫn) chuyên nghiệp làm hạt giống để hỗ trợ tại nhiều tỉnh thành và lĩnh vực trên cả nước, nâng cao tỉ lệ các cá nhân thực sự trở thành mentor trong hệ sinh thái và đóng góp ngược lại cho sự phát triển chung.

Về việc hỗ trợ các địa phương xây dựng hệ sinh thái, ông Lý Đình Quân, Giám đốc Songhan Incubator cho biết: “Từ kinh nghiệm tư vấn cho hầu hết các tỉnh thành trên 3 miền đất nước, tôi nhìn nhận mỗi địa phương có những đặc thù và lợi thế riêng, do đó con đường để phát triển khởi nghiệp sáng tạo cũng cần được nghiên cứu và điều chỉnh phù hợp chứ không thể sao chép lẫn nhau. Các tổ chức hỗ trợ từ trung ương tới địa phương nếu đi một mình thì sẽ không thể thực hiện hiệu quả, mà cần thiết phải có sự liên kết và tận dụng nguồn lực của nhau. Dù là tận dụng nguồn nội lực hay ngoại lực thì yếu tố “kết nối” cần được đặt lên hàng đầu”.

Đại diện Sở KHCN Phú Thọ, bà Trần Bích Hạnh cho biết: “Từ kinh nghiệm tham gia Đề án 844 với nhiệm vụ thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo cho 15 tỉnh khu vực Trung du và miền núi phía Bắc, tôi cho rằng tại mỗi địa phương, để khởi nghiệp sáng tạo thực sự có kết quả rất cần sự ủng hộ của lãnh đạo cũng như sự vào cuộc của truyền thông địa phương để nâng cao nhận thức. Nếu thiếu sự tham gia của các cấp chính quyền, hoạt động khởi nghiệp sáng tạo sẽ “manh mún” và khó có được sự phát triển bền vững”.

Theo Baochinhphu

Trong năm qua, Cục Ứng dụng và phát triển công nghệ được đánh giá là bám sát định hướng lấy doanh nghiệp làm trọng tâm, đã có các hoạt động thiết thực hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, kết nối cung – cầu công nghệ cũng như xây dựng cơ sở dữ liệu về nhu cầu công nghệ.
Tại Hội nghị Báo cáo đánh giá kết quả công tác năm 2019 của Cục Ứng dụng và phát triển công nghệ (SATI), Thứ trưởng Trần Văn Tùng đã đánh giá, Hoạt động của SATI đã bám sát định hướng lấy doanh nghiệp làm trọng tâm – hướng mà Bộ KH&CN đang quan tâm đẩy mạnh. Có thể nói, với các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, kết nối cung – cầu công nghệ cũng như xây dựng cơ sở dữ liệu về nhu cầu công nghệ, như Thứ trưởng Trần Văn Tùng đánh giá là SATI đã “đi cùng”, “giúp làm thay đổi năng suất, chất lượng, giúp doanh nghiệp tăng khả năng cạnh tranh”.

Cụ thể, nhìn nhận lại hoạt động trong năm qua tại Hội nghị, ông Tạ Việt Dũng, Cục trưởng SATI cho biết Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia đến năm 2020 được SATI thực hiện đến nay đã triển khai được 47 nhiệm vụ có tính cấp bách, khả thi trên tổng số gần 300 đề xuất từ các Bộ, ngành, địa phương với tổng mức kinh phí khoảng 1.350 tỉ đồng, trong đó ngân sách nhà nước hỗ trợ khoảng 430 tỉ đồng, tỉ lệ được nhận hỗ trợ chủ yếu là doanh nghiệp (chiếm 68%). Các dự án đã giúp tạo ra sản phẩm mới, gia tăng giá trị của các sản phẩm truyền thống và là mặt hàng xuất khẩu chủ lực như cá tra, dừa, lúa gạo. Các công nghệ chiết tách dầu dừa tinh khiết bằng công nghệ không gia nhiệt được chuyển giao cho Công ty TNHH Chế biến dừa Lương Quới (Bến Tre) giúp doanh nghiệp tăng năng lực xuất khẩu lên 26 lần, doanh thu sau khi đổi mới tăng lên gần 120 lần, dự án Hoàn thiện thiết kế và chế tạo hệ thống sấy lúa vỉ ngang năng suất 150 tấn/ mẻ giúp doanh nghiệp tư nhân Năm Nhã (An Giang) đã làm giảm tiêu thụ diện năng, giảm chi phí triển khai khoảng 10-15%, giảm nhân công vận hành hệ thống 50-60% và tăng độ bền hệ thống 20-25%.

Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình tham quan mô hình trình diễn công nghệ chiết xuất bằng CO2 lỏng siêu tới hạn trong sự kiện Techdemo Gia Lai. Ảnh: VAST

Không chỉ tập trung vào các “chính phẩm” của các mặt hàng chủ lực truyền thống, mà các cải tiến công nghệ được SATI nhắm tới còn là tận dụng phụ phẩm nông nghiệp, “biến phụ phẩm thành chính phẩm”, có thể kể đến như dự án Hoàn thoện công nghệ, thiết bị để nâng cao chất lượng dầu săn và sản xuất shortening, margarine từ phụ phẩm cá tra đã giúp Tập đoàn Sao Mai (An Giang) tận dụng phụ phẩm, tăng doanh thu từ chế biến mỡ cá lên gấp hơn 2 lần, dự án Hoàn thiện công nghệ và hệ thống thiết bị sản xuất chitosan từ phụ phẩm tôm đã giúp Việt Nam Food giảm giá thành sản xuất chitosan tới 25-30% so với các sản phẩm hiện có trên thị trường, hiện nay đang chiếm lĩnh 80-90% thị phần trong nước.

SATI cũng xây dựng, cập nhật cơ sở dữ liệu về công nghệ, chuyên gia công nghệ để từ đó hỗ trợ kết nối cung – cầu công nghệ giữa các đơn vị trong nước với công nghệ, chuyên gia trong và ngoài nước. Trong năm 2019, thông qua các hoạt động điều tra, khảo sát, tọa đàm, tư vấn, SATI đã tổ chức 289 cuộc kết nối cung cầu công nghệ. Tại riêng sự kiện Trình diễn kết nối cung cầu công nghệ năm 2019 (Techdemo) tại tỉnh Gia Lai, SATI đã tiếp nhận và xử lý 370 nhu cầu công nghệ của các doanh nghiệp, tổ chức, cung cấp thông tin 2600 nguồn cung công nghệ trong và ngoài nước trên hệ thống dữ liệu công nghệ của cục.
Bên cạnh đó, SATI xây dựng bản đồ công nghệ và hỗ trợ doanh nghiệp triển khai lộ trình đổi mới công nghệ, đang xây dựng báo cáo về hoạt động đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp. Đối với các địa phương, SATI hỗ trợ triển khai cơ chế tự chủ của các đơn vị công lập thuộc sở KHCN, hỗ trợ thành lập các điểm kết nối cung cầu công nghệ và tổ chức các hội thảo hợp tác nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ vùng (Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sông Cửu Long và Nam Trung Bộ- Tây Nguyên).
Sản xuất ở công ty TNHH Chế biến dừa Lương Quới. Ảnh: Báo Đồng Khởi
Để phát huy tốt hơn nữa những kết quả hỗ trợ doanh nghiệp trong thời gian tới, thứ trưởng Trần Văn Tùng đề nghị SATI kết hợp với các đơn vị khác trong bộ cùng thực hiện chuỗi các sự kiện (Techfest, Techdemo) về chuyển giao công nghệ, đưa công nghệ vào đời sống. Về mặt dữ liệu công nghệ, SATI phải quan tâm xây dựng cơ sở dữ liệu công nghệ bài bản, chuẩn, có tính thống nhất, kết nối, liên thông giữa các đơn vị với nhau, giữa các địa phương với trung ương. Tránh tình trạng “bên nào cũng xây dựng dữ liệu mà không thống nhất thì không sử dụng được”.
GS Hoàng Văn Phong, nguyên Bộ trưởng Bộ KHCN cho rằng SATI, để chuẩn bị cho năm bản lề của giai đoạn tới đây một cách “phát triển hơn nữa”, SATI phải lưu ý đến các xu hướng công nghệ đang được quan tâm nhiều trong cuộc cách mạng công nghệ lần thứ tư như AI, IoT, điện toán đám mây…, hoặc theo các ngành hàng quan trọng như cơ khí hóa, tự động hóa, linh kiện điện tử, điện dân dụng, gia dụng, vật liệu mới, ngành nông nghiệp… Từ đó nắm bắt được các công nghệ này đang được nghiên cứu, ứng dụng ở những đơn vị nào, doanh nghiệp nào, nhu cầu về các công nghệ này là gì. Chỉ khi nắm được hiện trạng sử dụng, các xu hướng nhu cầu công nghệ và có cơ sở dữ liệu thì mới hỗ trợ được các doanh nghiệp Việt chiếm lĩnh thị trường, GS Hoàng Văn Phong nhấn mạnh.
Bảo Như